|
|
|
Sâm là tên gọi chung để chỉ một số loại cây thân thảo mà củ và rễ được sử dụng làm thuốc từ rất lâu đời tại nhiều nước châu Á, thuộc nhiều chi họ khác nhau nhưng chủ yếu là các loại thuộc chi Sâm. Rất nhiều loại củ sâm có hình dáng hao hao giống hình người, đặc biệt là nhân sâm, do đó một số vị thuốc khác không thuộc chi, họ sâm nhưng có hình dáng củ tương tự cũng thường được gọi là sâm. Thêm vào đó, sâm là một vị thuốc bổ nên nhiều vị thuốc khác có tác dụng bổ cũng được gọi là sâm hoặc gắn với chữ sâm (kể cả một số loại động vật như con hải sâm, sâm đất,...).
Có rất nhiều loại sâm. Để phân biệt người ta thường gọi thêm tên địa phương hoặc màu sắc vào tên gọi: Nhân sâm (Panax ginseng họ Araliaceae): được mô tả sớm nhất và được ứng dụng phổ biến nhất. Theo lịch sử y học cổ truyền của Trung Quốc từ 3000 năm trước Công nguyên, nhân sâm đã được nói đến như là một thần dược trong “Thần nông bản thảo” của vua Thần Nông. Hiện nhân sâm được trồng chủ yếu ở Triều Tiên và Hàn Quốc (nhan sam Han Quoc) với chất lượng và công dụng vượt trội. Đảng sâm (Codonopsis spp. họ Campanulaceae): mọc hoang và được gieo trồng ở Thượng Đảng. Huyền sâm (Scrophularia họ Scrophulariaceae): có màu đen. Đan sâm (Salvia miltiorrhiza họ Lamiaceae): có màu đỏ. Bố chính sâm (Hibicus sagittifolius họ Malvaceae): mọc hoang và được sản xuất ở Bố Trạch. Sa sâm (Launaea pinnatifida họ Asteraceae/Adenophora spp. họ Campanulaceae): loại sâm này thường mọc ở vùng đất pha cát. Thổ nhân sâm (Talinum spp. họ Portulacaceae),... và rất nhiều loài sâm khác.